Thời Mạt Pháp!

Hồ Như Ý

0 1,177

Đối với tất cả các tôn giáo thì tăng lữ đóng một vai trò rất quan trọng, trong đó Phật Giáo đặc biệt dựa vào tăng lữ. Bởi vì Kito Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo cùng các tôn giáo khác có những bộ kinh điển tối cao như Kinh Thánh, Kinh Quran, giáo đồ có thể thông qua nghiên cứu những kinh điển tối cao này để trực tiếp đối diện với Đức Chúa Trời và giáo lý. Ví như Kinh Thánh đã được truyền thừa trong hai nghìn năm, mỗi một thế hệ tín đồ đều bắt đầu đọc Kinh Thánh từ nhỏ, sống đến già đọc đến già, cộng thêm văn tự tương đối dễ hiểu.

Ngược lại Phật Giáo lại là một hệ thống giáo nghĩa được tổ hợp từ nhiều kinh điển, quy mô rất to lớn, bác đại tinh thâm, tăng thêm chữ nghĩa kinh văn khó hiểu, tư duy thâm ảo, tràn ngập những “đốn ngộ” hoặc “cơ phong” (chỗ vi diệu, sắc sảo của thiền cơ). Phật Giáo cũng được chia thành nhiều trường phái và hệ tư tưởng, mỗi trường phái tự thân đều có điển tịch và học thuyết cho riêng mình, hết sức đa dạng và phức tạp, kể cả dành riêng cả đời để đào sâu nghiên cứu cũng khó để quán thông tất cả. Tín đồ Phật Giáo bình thường lại càng không thể nào dùng sức một người đi nắm giữ nó. Những lý do trên dẫn tới Phật Giáo từ đầu tới cuối luôn tồn tại ở trạng thái nhị nguyên đặc biệt: một thực thể là cảnh giới triết học lý tính tối cao nằm trong tháp ngà xa rời thực tế; một thực thể khác là tầng lớp đại chúng mê tín đông đảo. Thứ có thể đem hai thực thể phân tách này kết hợp lại với nhau, để cho họ giao tiếp vào dung hợp vào trong một hệ thống Phật Giáo hoàn chỉnh, là tăng lữ.

Tăng lữ Phật Giáo, thông qua hệ thống truyền thừa cũng như nỗ lực nghiên cứu giáo lý của bản thân, đã có được năng lực nắm giữ thực thể triết học Phật Giáo; đồng thời họ cũng trực tiếp đối diện với đông đảo tín đồ. Công việc của sư tăng vừa phải bảo vệ và phát triển Phật pháp, lại dùng Phật pháp để tiến hành giáo hoá quảng đại tín chúng, đem những triết lý thâm ảo của Phật Giáo biến thành hành vi thường nhật của tín đồ. Nhìn từ góc độ này, tăng lữ là cây cầu nối giữa hai thực thể nhị nguyên. Phật pháp chỉ có thể đến với thế tục thông qua tăng sư; tín đồ chỉ có thể nhận thức được Phật pháp thông qua tăng sư. Có thể nói không có tăng sư thì không có Phật Giáo ở thế tục nhân gian. Cái gọi là Phật Giáo Tam bảo佛教三寶 (Ba báu vật của Phật Giáo) gồm: Phật, Pháp, Tăng – sở dĩ thiếu một cũng không được là vì thế. Phật và Pháp có tốt đến mấy, nếu không có tăng sư có thể đem đến với tín đồ chúng sinh, thì giống như xây lầu cao thành quách giữa trời vậy, không cách nào phổ độ chúng sinh.

Đối với các tôn giáo có được hệ thống kinh điển tối cao, tín đồ có thể trực tiếp lĩnh hội, quyền lên tiếng của tăng lữ tương đối có hạn. Tín đồ dễ dàng giám sát tăng lữ, hình thành nên thúc ước thế tục. Với Phật Giáo, bởi vì hệ thống giáo lý cùng trường phái phức tạp, đồ sộ, các tín đồ khó có thể nắm vững, quyền giải thích giáo nghĩa gần như bị thuộc về tăng sư, trong khi tín đồ lại không cách nào thúc ước tăng sư. Trong lịch sử xã hội Tây Tạng, nơi mà toàn dân sùng bái Phật Giáo, đồng thời cũng là nơi mà chính quyền và tôn giáo tiến hành hợp nhất, sự phục tùng vô điều kiện của tín đồ đối với tăng lữ càng phổ biến. Điều này đã đặt ra những yêu cầu rất cao đối với tăng lữ thuộc dòng Phật Giáo Mật Tông. Chỉ khi tăng lữ duy trì giới luật nghiêm ngặt thì mới có thể giữ tín đồ không đi chệch khỏi giáo lý Phật pháp.

Tăng đoàn là đoàn thể tăng lữ tại chùa chiền: những Phật sống, Kham Bố (堪布 Khenpo – có nghĩa là tiến sĩ Phật học, thường kiêm một chức vụ quản lý trong chùa), Trú Trì (Trụ Trì) tiến hành quản lý các ngôi chùa và tăng đoàn cùng với các Lạt Ma cấu thành lãnh tụ tăng đoàn. Đặc điểm của Phật Giáo là bản thân các chùa tự hình thành một đoàn thể độc lập, được lãnh đạo bởi lãnh tụ tăng đoàn, bởi vậy tự bản thân lãnh tụ tăng đoàn chính là người có quyền phát ngôn giải thích Phật pháp tối cao, tự thân như pháp. Đồng thời, lãnh tụ tăng đoàn dùng giới luật Phật Giáo để tiến hành quản thúc và giáo dục đối với các tăng lữ, lúc cần thiết có thể thanh lý môn hộ, như vậy mới có thể đảm bảo được sự thuần khiết của Phật pháp của tăng đoàn. Những lãnh tụ tăng đoàn này thường được gọi là “Cao tăng đại đức”.

Điều đáng sợ chính là sự suy thoái trụy lạc của một số lãnh tụ tăng đoàn. Trụy lạc của tăng lữ có thể xem là vấn đề cá nhân, hơn nữa chỉ cần thanh lý thì giới luật Phật pháp sẽ tự phục hồi; nhưng nếu các lãnh tụ tăng đoàn đọa lạc thì sẽ làm cho cả một tăng đoàn mất đi sự quản chế, cả tập thể trở nên bại hoại. Nếu như lãnh tụ tăng đoàn dùng Phật pháp mưu lợi cá nhân, đem tín ngưỡng xem là công cụ để kiếm lời cho bản thân, tín đồ quần chúng bình thường rất khó đưa ra phán đoán đúng sai, Phật pháp từ đây đoạn tuyệt giáo lý đối với tín đồ, sự sùng bái của tín đồ và quần chúng cũng dần bị thao túng bởi những trò mê tín ngu dân.

Phật giáo Tịnh độ ở Việt Nam tuy có sự phát triển sâu rộng, kết hợp với văn hóa tín ngưỡng bản địa của đông đảo tín chúng với một lịch sử lâu dài nhưng không thể tự thân phát triển thành một tông phái, không có vị trí độc lập, tách biệt với các pháp môn khác. Đồng thời cũng không phong phú về lý luận giáo lý và phương pháp thực hành như Tịnh độ tông Trung Quốc hay Nhật Bản. Cho tới năm 1954, Phật giáo tại Việt Nam dường như chưa được tổ chức thành một giáo hội chính quy mà chỉ có những tông phái và chi phái riêng biệt và sinh hoạt độc lập với nhau. Hơn nữa, do không có một tổ chức thống nhất chủ đạo để đào tạo giới tăng lữ, ai cũng có quyền đi tu và có thể trở thành tăng sĩ, tăng sĩ nào có công xây chùa thì được trụ trì tại chùa đó. Vì thiếu tài liệu, kinh sách về Phật học, trình độ thuyết pháp của những sư sãi rất chênh lệch với nhau. Về sau, ở Sài Gòn có thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, nhưng do quen với sinh hoạt tự do và tự trị từ lâu đời, những tăng sĩ và cư sĩ của giáo hội này chưa quen với sinh hoạt có tổ chức, trong Giáo hội có sự chia rẽ và tranh giành quyền lực trầm trọng. Trong đó có nhiều tổ chức Phật Giáo thực chất là cơ sở hoạt động của Mặt trận Giải phóng Miền Nam.

Kể từ năm 1975, chính phủ Việt Nam áp dụng chính sách hạn chế hoạt động tín ngưỡng đối với mọi tôn giáo. Những cơ sở của Phật giáo Nam Việt Nam bị chính quyền mới tịch thu, quốc hữu hóa, các lãnh đạo tăng đoàn hoặc tỵ nạn sang nước ngoài hoặc bị tống giam. Năm 1981 chính quyền Việt Nam cho ra đời Giáo hội Phật giáo Việt Nam, quy tụ các tổ chức giáo hội và hệ phái trên toàn quốc, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Sơ đồ tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam không khác gì sơ đồ của một đảng phái với những cấp trung ương, tỉnh thành, quận huyện. Sự can thiệp của chính quyền trực tiếp vào cách hành đạo đã khiến sinh hoạt của Phật giáo Việt Nam suy đồi. Một số tăng lữ trá hình được chính quyền đề cử trụ trì đã biến chốn Phật đường thành nơi giải trí và buôn thần bán thánh, thậm chí nhiều cán bộ cấp cao hay thương nhân bỏ tiền xây chùa và mướn sư sãi trông nom với hy vọng được về cõi Niết Bàn sau khi chết. Có chùa còn tạc tượng “bồ tát Hồ Chí Minh”, rồi tượng Võ Nguyên Giáp và những nhân vật chính trị khác. Có tượng được dát vàng, để thờ ngang với các chư Phật. Ngày nay, nhiều khách thập phương đến chùa để cầu xin trúng số hay thỏa mãn tình duyên nhiều hơn là để cầu nguyện. Sinh hoạt của Phật giáo Việt Nam đang bị chính quyền trần tục hóa. Đồng thời, chính quyền bẻ cong giáo lý, diễn giải lệch lạc khiến cho giới tăng lữ ẩn núp trong phạm trù cá nhân hẹp hòi càng tự tung tự tác tàn phá Đạo Phật.

Sự đọa lạc của tầng lớp tăng lữ trong hệ thống “Phật giáo cộng sản” đang dẫn tới sự đứt đoạn của cả hệ thống truyền thừa Phật pháp. Chẳng gọi là thời mạt pháp thì là gì! Thích Ca Mâu Ni đã từng dự ngôn về thời đại mạt pháp là “Hủy ngã giáo giả nãi xuyên ngã y nhân – Kẻ hủy diệt đạo giáo của ta chính là kẻ mặc áo của ta” – đó là bởi sự đọa lạc của tầng lớp tăng lữ, đặc biệt là đọa lạc của lãnh tụ tăng đoàn gây ra.

Tác giả gửi Trí Việt News

Loading...
TriViet Newsletter
Để tiện theo dõi tin bài mới nhất của Trí Việt News, xin các bạn vui lòng đăng ký bằng cách điền email vào đây. Cám ơn các bạn đã ủng hộ Trí Việt News.
You can unsubscribe at any time